Mối quan hệ giữa doanh nghiệp, kinh tế đô thị và chính quyền đô thị
70% GDP quốc gia là sản lượng mà khu vực đô thị đóng góp cho GDP Việt Nam. Con số này sẽ tiếp tục tăng với tốc độ 12,6% trong nhiều năm tới. Vậy đâu là lực lượng chính tạo ra số liệu ấn tượng trên và chính quyền đô thị có thể can thiệp như thế nào trong quá trình tăng trưởng kinh tế đó ?
Đặt vấn đề
Sáng ngày 7/11/2011 trong bài phát biểu khai mạc Hội nghị Đô thị Việt Nam “Thân thiện môi trường – Phát triển bền vững”, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trịnh Đình Dũng đã khẳng định, vai trò là động lực phát triển kinh tế của khu vực đô thị khi công bố khoảng 70% (1) GDP Việt Nam đến từ khu vực này. Một số báo cáo gần đây của nhiều tổ chức nghiên cứu khác nhau, trong đó có UN-Habitat (2) cho thấy triển vọng phát triển của nền kinh tế đô thị Việt Nam là khá khả quan khi dự báo tốc độ tăng GDP tại các khu vực đô thị sẽ là khoảng 12,6% (3). (tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2011 chỉ là 5,89% (4), dự báo cho năm 2012 vẫn chỉ là 1 con số (5))
Với định hướng phát triển đô thị Việt Nam “Thân thiện môi trường – Phát triển bền vững” cùng các số liệu trên, thì rõ ràng đối với các nhà đầu tư cả trong và ngoài nước, đầu tư vào khu vực đô thị sẽ vẫn là món đầu tư có hời về dài hạn. Vậy đây thực sự đã là viễn cảnh đảm bảo cho sự phát triển chung của nền kinh tế đô thị Việt Nam ???
Theo thông báo của Bộ Công thương, với GDP Việt Nam năm 2011 là hơn 119 tỷ USD (6), có nghĩa là 755 (7) đô thị Việt Nam đang đóng góp 83,3 tỷ USD cho GDP quốc gia. Nếu chia bình quân 70% GDP Việt Nam năm 2011 cho tổng số đô thị Việt Nam tại thời điểm đó thì trung bình mỗi đô thị đóng góp khoảng 0,09% GDP quốc gia tương đương 0,1071 tỷ USD. Đây là một con số khổng lồ khi biết rằng các đô thị loại 4, 5 phần lớn có thu ngân sách trên địa bàn chỉ khoảng 50-100 tỷ VNĐ. Ví dụ thị trấn Sa Pa (Lào Cai) loại IV là 56 tỷ VNĐ (8), thị trấn Ba Đồn (Quảng Bình) loại IV là 38 tỷ đồng (9), thị trấn Long Mỹ (Hậu Giang) là 31 tỷ VNĐ (10). Thành phố Hưng Yên là đô thị loại III nằm trong vùng ảnh hưởng của Thủ đô Hà Nội thu ngân sách năm 2010 là 470,6 tỷ VNĐ (11) (chỉ khoảng 19 triệu USD).
Phép chia bình quân trên cho thấy, con số tổng 70% chưa phản ảnh hết thực tế phát triển của kinh tế đô thị cả ở quy mô quốc gia và quy mô đô thị. Hà Nội hiện đóng góp khoảng 12% GDP quốc gia (12), Hồ Chí Minh là 21,3% (13). Nếu tính cụm 5 đô thị trực thuộc Trung ương thì các đô thị lớn này đóng góp tới 35% GDP Việt Nam (14). Đây chính là lý do giải thích cho thực tế trên. Số lượng các đô thị nhỏ, chiếm tới 750 đô thị có năng lực cạnh tranh thấp hơn rõ rệt so với các đô thị lớn. Phần lớn các đô thị thuộc nhóm này kể cả các đô thị loại III, loại II vẫn cần nguồn ngân sách Trung ương cấp để đầu tư cho phát triển đô thị.
Tuy nhiên mối bận tâm đến từ cả các đô thị lớn như loại I và loại đặc biệt. Trước sự cạnh tranh mạnh mẽ, khốc liệt của các đô thị quốc tế láng giếng như Kuala Lumpur, Bangkok, Singapore, Hongkong… thì việc các đô thị lớn tại Việt Nam có thể thu hút đầu tư nhằm tăng nguồn thu ngân sách đề từ đó phân bổ chi cho đầu tư phát triển đô thị là không dễ dàng. Việc các đô thị thiếu sức cạnh tranh, thiếu tính hấp dẫn xuất phát từ chính khó khăn trong quá trình tìm kiếm nguồn kinh phí dành cho đầu tư phát triển đô thị.
Hà Nội có tổng thu ngân sách trên địa bàn năm 2011 là 113.405 tỷ VNĐ thì tổng chi chỉ khoảng 38.000 tỷ VNĐ (cho tất cả nhu cầu như dịch vụ đô thị, chi phí quản lý hành chính… chi cho đầu tư phát triển đô thị chỉ là một hạng mục); Thành phố Hồ Chí Minh có tổng thu ngân sách trên địa bàn là 172.706 tỷ VNĐ và chi là 29.524 tỷ VNĐ (15) (chiếm 17%).
Từ 2 đô thị là cực phát triển quốc gia nêu trên, có thể thấy rằng khó khăn trong quá trình thu hút đầu tư phát triển cả đối với đô thị lớn và nhỏ nằm ở ngay chính cơ cấu thu chi ngân sách của đô thị. Trong khi TP Hồ Chí Minh đóng góp tới 21,3% GDP cả quốc gia thì chi ngân sách được tự chủ chỉ chiếm 17% tổng thu ngân sách trên địa bàn thành phố. Một con số nhỏ bé so với nhu cầu cần cho đầu tư phát triển đô thị của thành phố 7,3 (16) triệu dân (nếu tính cả dân số không đăng ký thường trú là khoảng 8 triệu người) và nhỏ so với chính thành quả đóng góp tính tới thời điểm hiện nay của thành phố đó.
Việc không tự chủ trong các khoản chi ngân sách để huy động nguồn lực lớn hơn và tập trung hơn cho đầu tư phát triển đô thị đưa đến thực tế các đô thị đều phải huy động các nguồn đầu tư khác. Nhưng để thu hút đầu tư thì chính quyền đô thị lại cần chi phí cho đầu tư phát triển đô thị. Đây là một vòng luẩn quẩn mà hầu hết các chính quyền đô thị phải đối mặt.
Mặc dù gặp phải khó khăn như vậy, nhưng rõ ràng tự thân các đô thị cũng đã rút ra những bài học cho riêng mình (mặc dù không phải tất cả) để phát triển. Con số 70% GDP quốc gia và 12,6% tốc độ tăng trưởng đã nói lên điều đó. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là: đâu là lực lượng chính tạo ra sức mạnh kinh tế đó và các chính quyền đô thị có thể can thiệp như thế nào trong lĩnh vực phát triển kinh tế ?
Đâu là lực lượng chính của nền kinh tế đô thị ?
Ngày 14/3/2012 theo báo cáo của VCCI (17) thì tổng số doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đang đóng góp 47% GDP quốc gia (nhiều hơn đóng góp của cụm 5 đô thị trực thuộc Trung ương và tương đương với đóng góp của nhóm các đô thị loại I và loại đặc biệt). Nếu tỉnh cả số lượng các doanh nghiệp khác, hợp tác xã, trang trại và khoảng 3 triệu hộ kinh doanh cá thể thì các quy mô đóng góp khoảng 60% (18).
Hà Nội và Hồ Chí Minh là 2 thành phố có số lượng doanh nghiệp đang hoạt động nhiều nhất. Riêng đối với các DNNVV thì 2 thành phố này chiếm 42,46% tổng số DNNVV của cả nước. Điều đó có nghĩa là với khoảng 33% GDP đóng góp của Hà Nội và Hồ Chí Minh cho GDP quốc gia, thì các DNNVV tại 2 thành phố này đóng góp tới 20%. (nếu tính cả các doanh nghiệp khác, hợp tác xã, trang trại và hộ kinh doanh cá thể thì xấp xỉ 30%). Điều này cho thấy vai trò của các doanh nghiệp đối với nền kinh tế đô thị. Việc các doanh nghiệp có tác động mạnh mẽ tới nền kinh tế đô thị không chỉ dễ thấy ở quy mô cấp đô thị và tại Việt Nam mà còn cả ở quy mô cấp quốc gia và trên thế giới.
Trong sự phát triển của nền kinh tế hiện đại, vai trò của các doanh nghiệp ghi dấu ấn mạnh mẽ trong sự phát triển chung của các quốc gia. Giai đoạn trỗi dậy thần kỳ của nền kinh tế Châu Á (sau thế chiến thứ 2 đến đầu những năm 90) đã chứng kiến sự vươn lên mạnh mẽ của các quốc gia như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Ấn Độ… đều gắn liền với tên tuổi các tập đoàn doanh nghiệp quy mô quốc tế (Hàn Quốc với Posco, Samsung, Huyndai, Nhật Bản với Toyota, Honda, Sony, Hongkong với Li&Fung, Đài Loan với Acer, HTC, Trung Quốc với Lenovo, Huwaie và Ấn Độ với Tata, Wipro…) (19)
Tại Việt Nam, từ sau năm 1994 khi các tổng công ty 90, 91 ra đời (20) đến năm 2006 khi 3 tập đoàn kinh doanh đầu tiên được thành lập (21), một giai đoạn mới trong sự phát triển của các doanh nghiệp được mở ra, khi cả quy mô, tính tổ chức, lĩnh vực kinh doanh, địa bàn hoạt động đều khác trước rất nhiều… Nhiều tập đoàn và doanh nghiệp đã từng bước ghi dấu ấn trên tầm quốc gia và quy mô quốc tế cho dù vẫn còn khoảng cách khá xa so với các đồng ngiệp tại các quốc gia láng giềng… Mặc dù vậy, dấu ấn ở cấp tỉnh, thành thì rất rõ rệt.
Nhiều doanh nghiệp địa phương trong sự phát triển của mình đã đóng góp mạnh mẽ cho sự phát triển chung trên địa bàn như Becamex tại Bình Dương, Doanh nghiệp Xuân Trường tại Ninh Bình, doanh nghiệp Bitexco tại Thái Bình, Hoàng Anh Gia Lai tại Kon Tum… Các doanh nghiệp này, bên cạnh việc đóng góp lớn cho nền kinh tế đô thị, còn giúp ổn định xã hội đô thị khi tạo thêm nhiều việc làm (các DNNVV tại Việt Nam tạo ra khoảng 1 triệu việc làm mỗi năm (22)) và cơ hội có thêm nhiều nguồn thu mới (từ các hoạt động dịch vụ đi kèm).
Có thể nói rằng, sự phát triển của các đô thị ngày nay gắn liền với sự phát triển của doanh nghiệp và các doanh nghiệp chính là động lực phát triển của đô thị.
Tính cạnh tranh đô thị
Việc các doanh nghiệp là lực lượng chính trong sự phát triển đô thị đến từ chính các lợi thế mà đô thị tạo ra như: lợi thế về quy hoạch đồng bộ, lợi thế về chất lượng hạ tầng, lợi thế về nguồn lao động có kỹ năng, lợi thế về môi trường đầu tư an toàn, lợi thế về các chính sách hỗ trợ ưu đãi … Bên cạnh các lợi thế trên thì các đô thị khi càng phát triển lại càng tạo ra được nhiều lợi thế có tính “ít phổ biến” hơn như diện tích, quy mô khu văn phòng, các khu trung tâm thương mại, khách sạn và cả các sân bay, cảng biển quốc tế… (5 thành phố Trực thuộc Trung ương đều có sân bay hoặc cảng biển quốc tế). Tất cả các yếu tố này tạo nên sức cạnh tranh đô thị.
Hầu hết các chuỗi khách sạn hiện đại, các trung tâm thương mại, siêu thị lớn.. tại Việt Nam đều tập trung ở cụm 5 thành phố trực thuộc Trung ương như khách sạn Hilton, Nikko, Daewoo, Hywat, Sofitel.. hay các trung tâm thương mại Vincom, Parkson, BigC, Metro.. Các tiện ích này cho phép các đô thị lớn có điều kiện quảng bá hình ảnh đô thị của mình để tăng sức cạnh tranh nhằm thu hút đầu tư thông qua hoạt động về các sự kiện lớn về thể dục thể thao, văn hóa văn ghệ, hội nghị, meeting, diễn đàn… (như Diễn dàn APEC tại Hà Nội, Lễ hội Vua Hùng tại Việt Trì – Phú Thọ, Festival pháo hoa quốc tế tại Đà Nẵng, Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á tại Hà Nội và Hồ Chí Minh, Hội chợ VietBuild 2012 vừa diễn ra tại Cần Thơ..).
Ở quy mô quốc gia, các lợi thế “ít phổ biến” của cụm 5 đô thị trực thuộc Trung ương về sân bay và cảng biển quốc tế tạo ra ưu thế vượt trội so với 750 đô thị còn lại. Nhưng ở quy mô quốc tế, các đô thị này lại gặp phải sự cạnh trạnh mạnh mẽ hơn từ các các sân bay láng giềng có quy mô siêu lớn như Changi – Singapore (37,3 triệu lượt hành khách năm 2009), sân bay Chek Lap Kok – Hongkong (45,5 triệu lượt hành khách năm 2009), sân bay Suvarnabhumi -Thái Lan (42,7 triệu lượt năm 2010), trong khi sân bay quốc tế Nội Bài là 9,5 triệu lượt năm 2010, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất là 15,5 triệu lượt năm 2010 (23)…. Để thấy được sự khác biệt lớn từ lợi thế cạnh tranh trên, cần biết rằng trung bình cứ 1 triệu lượt hành khách sẽ tạo ra 1.000 đến 1.500 việc làm tại khu vực xung quanh sân bay (24).
Quy mô diện tích văn phòng cũng là một nhân tố quan trọng thu hút các doanh nghiệp. Xu hướng dịch chuyển các hoạt động sản xuất ra ngoại vi đô thị còn các khu trung tâm trở thành khu tài chính, dịch vụ, thương mại, khách sạn, nhà hàng… khiến cho lợi thế về quy mô diện tích các khu văn phòng ở các đô thị lớn cũng trở thành một lợi thế cạnh tranh. Năm 2012 mặc dù kinh tế vẫn trong thời kỳ khó khăn, thị trường Hà Nội vẫn cung cấp thêm khoảng 1,1 triệu m2 sàn văn phòng (25), đây là nguồn cung dồi dào cho các doanh nghiệp khi đầu tư vào Hà Nội. Việc tập trung các cơ sở vật chất dịch vụ tại khu trung tâm khiến giá thành bất động sản khu vực này tăng cao và đây cũng là một nguồn thu quan trọng cho đô thị.
Các đô thị du lịch (mặc dù có quy mô nhỏ) như thành phố Hội An hay thị trấn Sa Pa lại tạo ra được lợi thế cạnh tranh “ít phổ biến” khác, thể hiện dưới dạng nhân công có chất lượng, khi nhiều người dân địa phương có thể sử dụng ngoại ngữ để tham gia kinh doanh dịch vụ.
Có thể nói rằng sự cạnh tranh giữa các đô thị cả ở quy mô quốc gia và quốc tế đều rất khắc nghiệt. Việc xây dựng được những lợi thế cạnh tranh, đặc biệt các lợi thế có tính “ít phổ biến” sẽ giúp các đô thị có thể thu hút đầu tư và duy trì được nguồn đầu tư đó.
Vai trò của chính quyền đô thị trong phát triển kinh tế
Các lợi thế cạnh tranh như phân tích ở trên phần nào có thể có được từ các quyết định của chính quyền đô thị (như quyết định xây dựng một sân bay, hay đào tạo người lao động sử dụng ngoại ngữ, phát triển công trình dịch vụ…). Nhưng các quyết định của chính quyền đô thị có thực tế trở thành các lợi thế cạnh tranh hay không và có tính hiệu quả về mặt kinh tế hay không lại là câu chuyện khác ?
Dưới góc độ của nhà đầu tư, hay giám đốc các doanh nghiệp thì khi quyết định rót vốn xây dựng nhà máy trong một khu công nghiệp … họ quan tâm nhiều đến khả năng tạo ra lợi nhuận của dự án đó đem lại cho họ, hơn là quan tâm đến những đóng góp của nó cho nền kinh tế đô thị khu vực dự án đó. Nói cách khác, các chính quyền đô thị có thế quyết định quy hoạch, đầu tư xây dựng hoàn thiện hạ tầng khu công nghiệp để hấp dẫn nhà đầu tư và tạo ra lợi thế cạnh tranh so với các khu công nghiệp tại các đô thị khác, nhưng họ không thể quyết định được sẽ có những doanh nghiệp nào đến kinh doanh ở đây và càng không thế quyết định được các doanh nghiệp đó sẽ kinh doanh lãi để tạo ra nguồn thu cho đô thị.
Bên cạnh đó, ngay cả khi đã tạo ra được những lợi thế cạnh nhất định và thu hút được nhiều nhà đầu tư thì vẫn chưa thể đảm bảo rằng điều đó sẽ đem lại hiệu quả kinh tế về dài hạn. Tạo ra lợi thế cạnh tranh tốt thôi chưa đủ, các lợi thế cạnh tranh này còn phải tốt hơn tương đối so với các đô thị trong khu vực để đảm bảo giữ chân các nhà đầu tư và doanh nghiệp. Qua đó có thể thấy, vai trò của chính quyền đô thị với phát triển kinh tế chỉ là gián tiếp. Họ hỗ trợ và thúc đẩy nhiều hơn là quyết định.
Nhận định
Quá trình vận động tăng trưởng của các doanh nghiệp trong bối cảnh toàn cầu hóa và dưới nền trường kinh tế thị trường đã đem lại nhiều lợi thế cạnh tranh cho các đô thị khi tạo ra nguồn việc làm dồi dào, tăng thêm nguồn thu nhập… và là nhân tố chính của nền kinh tế đô thị. Ở góc độ quản lý đô thị, chính quyền đô thị là bộ máy quan trọng duy trì ổn định mọi mặt của hoạt động đời sống xã hội như: an ninh, quốc phòng, bình đẳng xã hội, giáo dục, y tế, cung cấp nhà ở, hạ tầng kỹ thuật cơ bản … Tuy nhiên, đối với lĩnh vực phát triển kinh tế, là xu hướng chung của toàn cầu hóa thì chính quyền đô thị đóng vai trò thúc đẩy và hỗ trợ nhiều hơn là vai trò quyết định (26), hay nói cách khác là vai trò gián tiếp chứ không phải trực tiếp. Việc xác định rõ vai trò của chính quyền đô thị và lực lượng chính của phát triển kinh tế đô thị sẽ giúp các chính quyền đô thị có được những giải pháp phù hợp hơn trong quá trình quản lý đô thị của mình.
Thay cho lời kết
Tham luận trên đây chỉ là một khảo sát hẹp trên quy mô nhỏ chưa thể bao quát hết mối quan hệ phức tạp, những ảnh hưởng lẫn nhau giữa các doanh nghiệp và các đô thị (đặc biệt các đô thị, doanh nghiệp có tầm ảnh hưởng quốc tế như các siêu đô thị hoặc các vùng đô thị lớn, các tập đoàn đa quốc gia có số vốn hóa hàng triệu USD..); cũng như chưa đề cập hết các lợi thế cạnh tranh của đô thị trong quá trình thu hút đầu tư; và vai trò cụ thể của chính quyền đô thị (thậm chí cả chính quyền vùng, tỉnh và chính quyền trung ương) đối với lĩnh vực phát triển kinh tế. Từng chủ đề này cần có những nghiên cứu chuyên sâu hơn với các số liệu chính xác hơn để đưa ra được bức tranh rõ hơn về các mối quan hệ này.1 Bài phát biểu khai mạc Hội nghị “Đô thị Việt Nam thân thiện môi trường – phát triển bền vững” của Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trịnh Đình Dũng, 7/11/2011.
2 Chương trình định cư con người Liên hợp quốc.
3 “Ngày định cư thế giới 2012” – TS Nguyễn Quang, Giám đốc Chương trình Định cư Con người Liên Hợp Quốc.
4 Tổng Cục thống kê, 29/12/2011.
5 Chính phủ Việt Nam dự báo GDP năm 2012 là 6 – 6,5%; World Bank dự báo mức tăng trưởng GDP Việt Nam là 5,1%; HSBCvà ADB là 5,7%.
6 “Báo cáo tình hình kinh tế xã hội năm 2011”, Bộ Công thương, 12/2011.
7 “Phát triển hệ thống đô thị Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế và khu vực” – ThS. KTS Phan Thị Mỹ Linh (Thứ trưởng Bộ Xây dựng). “Hội nghị Đô thị Việt Nam, Thân thiện môi trường – Phát triển bền vững”, 7/11/2011.
8 “Đề án Đề nghị công nhận thị trấn Sa Pa mở rộng, huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai đạt tiêu chuẩn đô thị loại IV”, 6/2012.
9 “Đề án Đề nghị công nhận thị trấn Ba Đồn mở rộng, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đạt tiêu chuẩn đô thị loại IV”, năm 2012.
10 Đề án Đề nghị công nhận thị trấn Long Mỹ, huyện Long Mỹ tỉnh Hậu Giang là đô thị loại IV, 10/2010.
11 “Chương trình phát triển đô thị thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên cơ bản đạt tiêu chuẩn đô thị loại II vào năm 2015 và định hướng phát triển đến năm 2020”, 5/ 2012.
12 Báo cáo tình hình kinh tế xã hội Hà Nội 2011.
13 “Báo cáo tổng kết Nghị quyết số 20-NQ/TW (Khóa IX) về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010”, 6/7/2012.
14 Báo cáo “Hội nghị tổng kết thực hiện giao ước thi đua năm 2009 và ký kết giao ước thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2010 của cụm 5 thành phố trực thuộc Trung ương”, Cần Thơ 8/3/2009.
15 Dự toán thu chi ngân sách các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương năm 2011, Cổng Thông tin Chính phủ.
16 Tổng cục Thống kê, 1/4/2010.
17 Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.
18 Báo cáo thường niên doanh nghiệp 2011 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), 14/3/2012.
19 Châu Á Thần kỳ, Michael Schuman, NXB Thời Đại, 2010.
20 Quyết định 91/TTg và 90/TTg ký ngày 7/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt (1922-2008) cho phép thành lập các tổng công ty quốc doanh. Trong đó quyết định 91 có nói đến “thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh”.
21 Thủ tướng Phan Văn Khải đã ký quyết định thành lập 03 tập đoàn: Ngày 26/12/2005 thành lập tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam; Ngày 09/01/2006 thành lập Tập đoàn Bưu chính Viễn thông; Ngày 15/5/2006 thành lập Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam Vinashin.
22 Báo cáo thường niên doanh nghiệp 2011 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), 14/3/2012.
23 Tổng hợp từ Wikipedia.
24 Những chiến lược của các vùng đô thị lớn – tr.206, Gilles ANTIER, 4/2010.
25 Dự báo thị trường năm 2012 của CBRE Việt Nam.
26 Những chiến lược của các vùng đô thị lớn – tr.197, Gilles ANTIER, 4/2010.------
ThS. KTS Nguyễn Dư Minh
PGĐ Trung tâm Thông tin, Hợp tác quốc tế và Tư vấn Phát triển đô thị
Cục Phát triển đô thị, Bộ Xây dựng
06-11-2012